A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

TUYÊN TRUYỀN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

TUYÊN TRUYỀN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

 

  1. Tính cấp thiết về quyền bình đẳng giới.

     Đất nước ngày càng phát triển và vai trò của người phụ nữ cũng dần được khẳng định. Phụ nữ không chỉ làm  những công việc nội trợ, may vá, buôn bán nhỏ lẻ mà còn vươn xa hơn: làm lãnh đạo. Nhưng đâu đó vẫn còn sự chênh lệch khá lớn giữa vai trò và vị thế xã hội của phụ nữ. Vì vậy, để tạo ra sự cân bằng giữa vị trí và vai trò của phụ nữ, cần có cái nhìn đúng đắn và toàn diện về vấn đề bình đẳng giới để hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

  1. Bình đẳng giới  là gì?

     Theo Liên hợp quốc, bình đẳng giới ngụ ý rằng nam giới và nữ giới cần nhận được những đối xử bình đẳng trong tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội và nhân quyền, quyền con người như: giáo dụcy tếvăn hóahôn nhângia đình, việc làm, các chính sách phúc lợi... Đây là một chiến lược được Liên Hiệp quốc theo đuổi trong việc xây dựng, thực hiện, giám sát và đánh giá các chính sách để đạt mục tiêu cuối cùng là nữ giới và nam giới được bình đẳng với nhau về pháp lý.

  1. Thực trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

- Vị thế lao động người phụ nữ còn thấp

Theo Báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, năm 2020,  tỷ lệ phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động là 71,2%; nhưng vị thế công việc của phụ nữ còn thấp, trong đó 52,1% thuộc lao động đơn giản và 66,6% là lao động gia đình. Vì thế thu thập bình quân của phụ nữ là 5,22 triệu đồng/tháng, bằng 81,1% mức thu nhập bình quân của nam giới (5,92 triệu đồng/tháng).

Không chỉ vậy, sự chênh lệch này đang ngày càng mở rộng ở nhóm lao động có trình độ, rõ nét nhất ở cấp độ chưa qua đào tạo thu nhập của lao động nữ thấp hơn so với lao động nam cùng trình độ là 8,1%, nhưng nếu ở nhóm trình độ đại học trở lên thì mức chênh lệch này tới 19,7%.

- Vẫn tồn tại sự kỳ thị trong đánh giá khả năng, đào tạo và đề bạt phụ nữ trong nhiều cơ quan, tổ chức. Các chính sách được ban hành chưa thực sự phù hợp với sự khác biệt về giới giữa nam và nữ. Bởi vậy, trong nhiều trường hợp chưa đem lại sự công bằng thực sự cho phụ nữ. Trên thực tế, phụ nữ có vai trò to lớn, đóng góp tích cực và hiệu quả cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nhưng xã hội chưa thực sự quan tâm đến phụ nữ, địa vị xã hội của họ, vì thế cũng còn nhiều mặt chưa tương xứng với vai trò to lớn của họ.

- Trong phạm vi gia đình, nữ giới đã không có quyền lợi bằng nam giới. Trong khi nữ giới làm việc nhà, chăm sóc gia đình và không được  trả thù lao, nhiều người coi đó là lẽ đương nhiên. Vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ trong quá trình sinh con, nuôi con, chăm sóc con cái, kế hoạch hóa gia đình. Phụ nữ cũng đang trở thành nạn nhân của nạn bạo lực gia đình, nạn nhân của buôn bán người, bóc lột lao động, xâm hại tình dục vô cùng nhức nhối trong xã hội.

4. Mt s gii pháp nhm gim tình trng bt bình đng gii c ta hin nay

- Tăng cường giám sát thực thi chính sách

Bên cạnh việc sửa đổi Luật Bình đẳng giới thì cần phải xác lập hệ thống chỉ tiêu giới rõ ràng, không chung chung để phấn đấu.

Việc giám sát các kế hoạch có tính đến giới và thực thi luật pháp về giới phải làm thường xuyên, hiệu quả và hiệu quả đó phải đo được từ thực tế.

- Nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân về bình đẳng giới.

Tình trạng "trọng nam, khinh nữ" vẫn đang là một hệ lụy tư tưởng lớn, không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của nữ giới mà còn hạn chế sự phát triển của xã hội. Chỉ khi thay đổi được nhận thức, xoá bỏ định kiến về giới thì mới thay đổi được cách hành xử.

Do đó, cần đẩy mạnh truyền thông chính sách, pháp luật về bình đẳng giới nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành và người dân tại cộng đồng.

- Thu hẹp khoảng cách về giới trong mọi khía cạnh của đời sống  như trong gia đình, trong công việc, trong lĩnh vực chính trị – xã hội.

Ví dụ: Cần nâng cao nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động về lợi ích kinh tế và xã hội của bình đẳng giới và nhất là thay đổi tư duy của người sử dụng lao động nhằm xoá bỏ những định kiến và rào cản đối với cả nam và nữ.

Bên cạnh đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có cơ chế giám sát các cơ sở lao động trong việc thực hiện chế độ thai sản, cung cấp và xã hội hóa các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc trẻ em để tạo điều kiện tốt nhất cho cả lao động nam và nữ; đảm bảo phụ nữ và nam giới được tạo cơ hội bình đẳng trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao tay nghề; trong lương hay thậm chí là trong thi đua, khen thưởng…

- Phát huy vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cần mạnh dạn và kịp thời hơn nữa phát huy tiếng nói, đề xuất với các cấp chính quyền những vấn đề liên quan đến bình đẳng giới.

 

Vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam được Nhà nước đặc biệt quan tâm. Điều này được thể hiện rõ trong các văn bản pháp luật cao nhất, quyền lực nhất. Trong đó quy định rất rõ về quyền bình đẳng của con người. Cụ thể như sau.

Ngay điều đầu tiên, hiến pháp năm 1946 đã quy định: “ Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo ”

Điều 26, Hiến pháp năm 2013 cũng quy định: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.” Và đặc biệt là “ Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.”

Bình đẳng giới không đơn thuần là quyền lợi của chị em, mà chính là quyền lợi chung của một đất nước muốn phát triển bền vững.


Tác giả: Trường Tiểu học Cam Phước Tây 2
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết